CẨM NANG

3 bí mật về sắt vi nang Lipofer: Liệu có thực sự tốt như lời đồn? 

Hiện nay trên thị trường có 3 dòng sản phẩm sắt phổ biến nhất là sắt hữu cơ, sắt vô cơ và sắt thế hệ mới - sắt vi nang. Trong số đó, dòng sắt vi nang Lipofer đang nhận được sự quan tâm nhiều hơn cả, nhưng liệu rằng sản phẩm này có thực sự tốt hơn hai loại sắt hữu cơ?
MỤC LỤC BÀI VIẾT

Đặc điểm của 3 loại sắt phổ biến hiện nay

Sắt hữu cơ và sắt vô cơ

Sắt vô cơ và hữu cơ có nhiều trong thực phẩm

Hiện nay, thị phần của 2 dòng sản phẩm ban đầu là sắt vô cơ và sắt hữu cơ vẫn chiếm ưu thế, do đây là những “cây đa cây đề” trong làng thực phẩm bảo vệ sức khỏe bổ sung sắt. Trong đó các loại thực phẩm bổ sung sắt hữu cơ thường được ghi chú là “heme iron polypeptide”, và sắt vô cơ là “ferrous” hoặc “ferric”.

Những loại sắt này hầu hết được sản xuất theo công nghệ cũ, nên khả năng hấp thụ kém, bán thải nhiều và thường đi kèm một số tác dụng phụ cơ bản như: táo bón, phân đen, nóng trong, vị tanh khó uống, cản trở hấp thu khi dùng chung với các loại vitamin hoặc các chất khác,…. 

Ngoài ra, đây cũng là 2 loại sắt được cung cấp cho cơ thể thông qua chế độ ăn uống. Sắt heme (Sắt hữu cơ), có nguồn gốc từ huyết sắc tố và myoglobin của nguồn thực phẩm động vật (thịt, hải sản, gia cầm; đặc biệt thịt đỏ có hàm lượng sắt cao nhất), là dạng sắt dễ hấp thụ (15% đến 35%) do ít bị ảnh hưởng bới các chất khác trong nhóm thực phẩm và đóng góp 10% trở lên trong tổng lượng sắt được hấp thụ của chúng ta.

Sắt nonheme (sắt vô cơ) có nguồn gốc từ thực vật và thực phẩm tăng cường chất sắt và khả năng hấp thu kém hơn (khoảng 2%-20%). 

Tuy nhiên, việc chỉ hấp thụ khoảng 35% là cao nhất khiến cơ thể sẽ không có đủ lượng sắt cần thiết nếu không tăng cường bổ sung sắt từ bên ngoài. Do đó, một mẫu sản phẩm mới là sắt vi nang có khả năng hấp thụ cao hơn đã được trình làng. 

Sắt vi nang Lipofer

Sắt vi nang Lipofer là sản phẩm sắt được tạo ra dựa vào công nghệ Micronization giúp phân tách sắt thành các hạt nhỏ, rồi bao bọc lại bằng công nghệ Liposome để đưa sắt đến tận tế bào đích (tránh làm thất thoát lượng sắt trong quá trình di chuyển qua hệ tiêu hóa), từ đó bảo đảm cho cơ thể được hấp thu sắt nhiều nhất có thể. 

Theo nghiên cứu, sắt vi nang có khả năng tăng sinh khả dụng cao gấp 2,7 lần sắt sulfat, gấp 3,5 lần sắt pyrophosphat thông thường và 4,7 lần so với sắt hữu cơ fumarat.

Chính vì thế, sắt vi nang có thể vừa phát huy tối đa khả năng hấp thụ, vừa hạn chế gây ra các tác dụng phụ như sắt thường. 

Sắt vi nang Lipofer: Hấp thụ tốt, tăng cường sắt tối ưu 

Sắt vi nang Lipofer có trong sản phẩm bổ sung sắt Sifer chính hãng từ Pháp

Sắt vi nang Lipofer là thành phần sắt có trong sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe bổ sung sắt Sifer (xuất xứ: Pháp) được sản xuất theo công nghệ hiện đại là Liposome và Micronization giúp cơ thể dễ dàng hấp thu lượng sắt cần thiết, qua đó ngăn ngừa thiếu sắt và tình trạng thiếu máu do thiếu sắt hiệu quả. 

Khả năng hấp thụ được chứng minh qua các báo cáo khoa học 

Theo nghiên cứu “Comparison of liposomal iron (Lipofer®) and ferrous sulfate on iron absorption and tolerance in healthy subjects” của tác giả Pisani et al. đăng tải trên Clinical Nutrition (2008) về so sánh sắt liposome (Lipofer®) và sắt sunfat về khả năng hấp thụ và dung nạp sắt ở những người khỏe mạnh. 

Nghiên cứu được thực hiện trên 24 đối tượng khỏe mạnh, được phân ngẫu nhiên để nhận Lipofer® (100 mg sắt/ngày) hoặc sắt sunfat (100 mg sắt/ngày) trong 1 tuần. Sau thời gian 1 tuần ngừng điều trị, các đối tượng được chuyển sang nhóm điều trị khác thêm 1 tuần nữa.

Kết quả: Dùng Lipofer® đem lại khả năng hấp thu tốt hơn so với sunfat. Mức tăng trung bình của nồng độ sắt trong huyết thanh sau 1 tuần điều trị bằng Lipofer® là 30 µg/dL, so với 15 µg/dL sau 1 tuần điều trị bằng sắt sulfat (p < 0,05). Ngoài ra, có 10% đối tượng dùng sắt sunfat báo cáo về tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Ở Lipofer® không ghi nhận tình trạng này. 

Theo nghiên cứu “Khả năng hấp thu sắt sau khi uống các dạng bào chế khác nhau” của tác giả Dra. Francesca Reig Isart (1999) chỉ ra rằng: Sắt Lipofer® có khả dụng sinh học cao gấp 2,7 và 3,5 lần so với sắt sunfat và pyrophosphate sắt thông thường.

Theo thử nghiệm tiến hành trên 3 nhóm đối tượng: 2 nhóm được bổ sung lần lượt Lipofer® và Ferrous fumarate tương đương 10 mg sắt/kg, 1 nhóm còn lại làm đối chứng. Hai giờ sau khi uống tiến hành lấy máu và phân tích nồng độ sắt trong huyết tương. Kết quả cho thấy Lipofer® có độ hấp thu cao gấp 5 lần so Ferrous fumarate (Nguồn:Aborcion de hierro adminstrado por via oral, CSIC , 2001).

Hạn chế nguy cơ tác dụng phụ 

Theo nghiên cứu Sắt liposomal điều trị thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: Rà soát các bằng chứng hiện tại” của tác giả Parag Biniwale và cộng sự chỉ ra rằng: Sắt vi nang ở dạng liposome giúp cải thiện sự hấp thụ sắt và tăng sinh khả dụng cao. Lượng huyết sắc tố tăng lên nhanh chóng và không có tác dụng phụ như khó chịu ở dạ dày và táo bón có liên quan đến việc uống sắt thông thường liều cao.

Nhờ vào cơ chế đó mà thành phần sắt vi nang Lipofer còn có thể mang lại nhiều ưu điểm hơn thế: Không tanh, không táo bón, không buồn nôn, không gây phân đen, không phụ thuộc bữa ăn, không kích thích đường tiêu hóa, không phụ thuộc thời gian uống, không ảnh hưởng đến khả năng hấp thu khi dùng chung với các sản phẩm khác.

Phù hợp với hầu hết mọi người

Sắt Lipofer có thể dùng được cho hầu hết các mọi đối tượng đã và đang bị thiếu máu hoặc dự phòng thiếu máu với liều lượng quy định.

Trong cơ thể con người, sắt là thành phần thiết yếu của protein tham gia vào quá trình vận chuyển oxy, điều hòa sự phát triển và biệt hóa tế bào. Việc thiếu sắt sẽ làm hạn chế khả năng cung cấp oxy đến tế bào, từ đó khiến cơ thể mệt mỏi, hiệu suất làm việc kém và làm suy giảm khả năng miễn dịch. Chính vì vậy, việc thiếu sắt có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, bạn có thể tham khảo sử dụng sắt vi nang Lipofer nhé.

Tài liệu tham khảo

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK448204/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3999603/

https://und.edu/student-life/dining/_files/docs/fact-sheets/iron.pdf

https://www.scirp.org/journal/paperinformation.aspx?paperid=87213

BÌNH LUẬN

BÀI VIẾT LIÊN QUAN